Tin mới
Đối tác
vbu.edu.vnĐạo Phật Ngày NayGiác Ngộqct3
Giới Thiệu

* Tổng Quan Về Sự Sinh Hoạt Hằng Năm Tại Đạo Tràng Tịnh Xá Ngọc Duyên

* Tổng Quan Về Sự Sinh Hoạt Hằng Năm Tại Đạo Tràng Tịnh Xá Ngọc Duyên

I. Ý NGHĨA CÁC NGÀY CÚNG HỘI 

Hệ phái khất sĩ do Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang khai sáng vào năm 1944 tại miền Tây Nam Bộ nước Việt Nam. Thời kỳ mở đầu, Ngài và các đệ tử với công hạnh Tứ Y Pháp chu du hành đạo từ nơi này đến nơi khác với hành trang Tam Y Nhất Bát Khất thực hóa duyên, không lưu trú một nơi nào cố định. Sau này vì thu nhận tín đồ bổn đạo mới xây dựng đạo tràng Tịnh Xá làm nơi nghỉ chân tạm cho đoàn Du Tăng cũng như có chỗ cho quần chúng tu học. Từ ấy, tại Tịnh Xá mỗi tháng có 4 ngày: mùng 8, Rằm, 23 và 30 Âm lịch. Đoàn Du Tăng dùng lại để tụng giới sách tấn tu tập và giảng Kinh thuyết pháp cho tín đồ phật tử. Cũng trong 4 ngày này, phật tử vâng tập về Tịnh Xá cúng dường Tam Bảo sám hối tu tập và văn kinh thính pháp. Do vậy mà 4 ngày này gọi là 4 ngày cúng hội..

Như vậy 4 ngày cúng hội là ngày mà 4 chúng đệ tử Phật tu tập tự lợi lợi tha, y theo truyền thống Giới Định Tuệ mà Đức Phật đã chỉ dạy từ ngàn xưa. Đến ngày nay Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang thắp sang lại ngọn đèn chánh pháp.

II. LỄ HÚY KỴ CỐ TRƯỞNG LÃO THÍCH GIÁC DƯỠNG

Cố Trưởng Lão Thích Giác Dưỡng, thế danh Đào Vọng, sanh năm 1921. Người ở thôn Thanh Liêm, Xã Nhơn An, Thị Xã An Nhơn, Tỉnh Bình Định.

Người xuất gia năm 1963, thọ Sa Di giới vào năm 1965, thọ Tỳ Kheo giới vào năm 1969. Người là một trong những đệ tử của Đức Thầy Giác An vị Đại Sư khai sáng Giáo Đoàn III Hệ Phái Khất Sĩ.

Vào thời kỳ trước năm 1975 cố Trưởng Lão đi hành đạo khắp các miền Tịnh Xá của Giáo Đoàn III. Sau ngày đất nước giải phóng Ngài được Giáo Hội Bổ nhiệm về trụ trì đầu tiên tại Tịnh Xá ngọc Duyên nơi quê hương Đập Đá-An Nhơn-Bình Định.

Ngài là một tu sĩ Khất Sĩ chân chính, luôn luôn lấy Giới-Định-Tuệ làm pháp sở hành. Người phật tử đến với Ngài không phải do lời nói cảm hóa mà do đời sống(thân giáo) của Ngài, một đời sống đạo hạnh vì mọi người vì Phật Pháp mà hy sinh phụng sự. Trải qua gần 20 năm trụ trì Tịnh Xá Ngọc Duyên tu đạo và truyền đạo, tấm gương cao đẹp của Ngài đã đem lại niềm tin học pháp choTăng tín đồ phật tử. Đến ngày 7 tháng 2 năm giáp tuất(1994), nhân duyên đã hết, đạo nghiệp viên thành, Ngài xả bỏ báo thân thu thần viên tịch. Trụ thế 73 năm, đời sống Khất Sĩ 31 năm.

Để nhớ ân đức của Ngài, hằng năm vào ngày lễ húy kỵ(7/2 ÂL) Tăng tín đồ phật tử Tịnh Xá Ngọc Duyên nói riêng, Giáo đoàn III nói chung đều vân tập về làm lễ tưởng niệm. Hầu thắp sáng tấm gương tự giác giác tha, tự lợi lợi tha của một bậc tu hành, mà cả cuộc đời đã hy sinh vì đạo vì đời.

III. LỄ PHẬT ĐẢN

Đại Lễ Phật Đản là ngày lễ quan trọng nhất trong Phật Giáo. Vì đó là ngày ra đời của Thái tử Tất Đạt Đa, ngày 15 tháng 4 Âm lịch vào năm 624 trước Công Nguyên. Và  30 năm sau Thái tử chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề dưới gốc cây Tất Bát La đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Một bậc giáo chủ vô thượng khai sáng ra Đạo Phật ở cõi ta bà này.

Lễ Phật Đản là ngày lễ biểu thị cho Từ Bi, Trí tuệ bình đẳng vô ngã vị tha.v.v… mà cuộc đời Đức Phật đã sống và đã trao truyền cho tất cả chư thiên và loài người. Vì thế mà được tất cả muôn loài tôn xưng Ngài là đấng Thế Tôn đủ 10 danh hiệu(Như Lai - Ứng Cúng – Chánh Biến tri – Minh Hạnh Túc – Thiện Thệ - Thế Gian Giải – Vô Thượng Sĩ – Điều Ngự Trượng Phu – Thiên Nhơn Sư – Phật Thế Tôn)

Để nhớ ơn, đền ơn và noi theo gương sáng vĩ đại của Đức Từ Phụ. Nên hằng năm vào ngày lễ Phật Đản, người con phật ở khắp năm châu đều hân hoan đón mừng ngày lễ hội cao quý nhất có một không hai này.

Hòa vào cái không khí cực kỳ trong lành ấy, Tịnh Xá Ngọc Duyên mỗi năm đến ngày Rằm tháng 4 Âm lịch đều tổ chức đón mừng ngày Đức Từ Phụ Thế Tôn thị hiện ra đời.

IV. AN CƯ KIẾT HẠ

Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế. Ngài và các đệ tử, thường đi du hành khắp nơi để truyền bá Đạo lý cứu khổ muôn loài. Đức Phật và Tăng đoàn, không lưu trú một nơi nào cố định. Vào mùa mưa(mùa hạ), Đức Thế Tôn cho phép chư đệ tử ở yên một chỗ để tu tập, nên gọi là “An cư kiết hạ”. Với tính chất ấy, nên An cư kiết hạ quả là một thắng duyên cho tăng đoàn thực hành hạnh Tự lợi và Lợi tha, buôn bỏ muôn duyên nhiếp tâm thiền định gọi là hạnh Tự lợi. Thuyết pháp độ sanh cả hai phần giáo hóa(Thân giáo và Khẩu giáo) làm bậc Ứng cúng cho Bổn đạo tín đồ, hầu giúp cho họ chuyển hóa cuộc sống đời thường gọi là hạnh Lợi tha. Đây là tính chất đặc thù của mùa An cư kiết hạ. Với tinh thần cao đẹp ấy, sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, hàng đệ tử duy trì đời sống phạm hạnh trong 3 tháng An cư này cho đến ngày hôm nay.

Y theo lời Phật dạy giữ gìn truyền thống An cư, Tịnh Xá Ngọc Duyên hằng năm mở trú xứ An cư cho Chư Tăng Hệ phái Khất Sĩ trong Tỉnh, để cùng nhau tu tập Tự lợi, Lợi tha thắp sang ngọn đèn chánh pháp.

V. LỄ VÍA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Đại Bồ Tát vào thời quá khứ lâu xa Ngài đã thành Phật. Nhưng vì hạnh nguyện đại bi mà hiện thân làm Bồ Tát. Do đó, Ngài có hạnh nguyện bất khả tư nghì. Ở thế giới ta bà, Ngài thị hiện 32 Ứng  Hóa Thân tầm thinh cứu khổ. Ở nơi miền cực lạc Tây phương, Ngài hỗ trợ Đức Phật A Di Đà tiếp độ chúng sanh. Hiện ngàn tay ngàn mắt là biểu tướng độ sanh, do lòng từ bi vô lượng của Đức Ngài ở Nam Thiện Bộ Châu này.

Ngài Ứng Hóa Thân vô lượng, nhưng được ghi vào lịch sử chỉ có 3 ngày kỷ niệm(Vía): 19 - 2; 19 - 6 và 19 - 9 Âm lịch.

Nơi đây, Tịnh xá Ngọc Duyên hằng năm lấy ngày 19 – 9 làm lễ hội mừng ngày Khánh Đản Đức Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Với tinh thần tri ân và noi gương sáng Đại Bi của Đức Mẹ Hiền cứu khổ.

VI. LỄ ĐỨC TỔ SƯ MINH ĐĂNG QUANG ĐẢN SANH

Phật Giáo Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam do Đức Tổ Sư Minh Đăng Quang sáng lập vào năm 1944. Ngài sanh vào ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi(1923) tại làng Phú Hậu, Tổng Bình Phú, Quận Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long, miền Nam Việt Nam.

Ngài tên Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Hườn. Thân phụ cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu, thân mẫu cụ bà Phạm Thị Tỵ, tự là Nhàn. Lúc nhỏ Ngài học xong bằng Thành Trung. Năm lên 15 tuổi(1938) Ngài qua Nam Quan tìm Thầy học đạo được 3 năm. Sau đó trở về quê sống cùng thân phụ, rồi kết duyên với cô Nguyễn Kim huê, hạ sanh được 1 người con  gái tên là Nguyễn Kim Liên. Sau khi sanh vợ chết, rồi một năm sau con cũng qua đời. Chứng kiến cảnh vô thường huyễn giả, nên Ngài quyết chí xuất gia tìm đường Giác Ngộ vào năm 1943, lúc này Ngài vừa đúng 21 tuổi.

Một năm sau, vào mùa xuân 1944 Ngài chứng được đạo quả  Bồ Đề, sau khi thấy những chiếc thuyền đánh cá bập bềnh trên mặt nước với những làng sóng dồn dập tụ tán.

Sau khi chứng đạo, Ngài liền y theo bổn nguyện “Nối Truyền Thích Ca Chánh Pháp”, mở ra đường lối “Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”.

Sự tu tập và hành đạo của Đức Tổ Sư như một tiếng Đại Hồng Chung vang lên cảnh tỉnh khắp quần chúng đó đây. Do vậy, có những giáo phái trong thời bấy giờ sanh tâm đố kỵ ác cảm với Ngài. Cho nên, vào ngày mùng 1 tháng 2 năm Giáp ngọ (1954) Ngài bị ông Trần Văn Sói tướng tổng tư lệnh Phật Giáo Hòa Hảo ra lệnh bắt Ngài. Và từ ấy Ngài vắng bóng cho đến ngày hôm nay.

Hằng năm vào ngày mùng 1 tháng 2 Âm lịch, môn đồ tứ chúng làm lễ tưởng Niệm để nhớ ơn thầy tổ. Nơi đây, Tịnh xá Ngọc Duyên Tăng tín đồ vào ngày này(1/2) ai nấy đều hướng đến Đức Tổ Sư mà niệm tưởng đến ân đức của Ngài.

Đặc biệt Tịnh Xá Ngọc Duyên hằng năm còn lấy ngày Tổ sư ra đời(Đản sanh 26/9 Âm lịch) làm ngày lễ hội hằng năm.. Để cho Chư Tăng Ni Phật Tử khắc ghi vào lòng cái ngày mà một đấng siêu phàm thị hiện ra đời trong thời kỳ mạc pháp này.

VII. LỄ VÍA PHẬT A DI ĐÀ

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi thành đạo dưới gốc Bồ Đề, Ngài đi hoằng hóa khắp xứ Ấn Độ. Trong 49 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài tùy căn cơ mà nói ra nhiều pháp môn tu tập mà pháp môn Tịnh độ là một trong những pháp môn ấy.

Đức phật dạy về pháp môn Tịnh độ gồm có các kinh: “Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Kinh” mà thường gọi là “Tịnh Độ Tam Kinh”. Nếu thêm phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” trong “Kinh Hoa nghiêm” và chương “Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông” trong “Kinh Lăng Nghiêm” , thì gọi là “Tịnh Độ Ngũ Kinh”.

Đặc điểm của pháp môn Tịnh độ là lấy sự vãng sanh tây phương làm chỗ quy hướng. Lấy Tín nguyện trì danh làm phương pháp tu hành.

Ở Ấn Độ pháp môn này chưa hình thành Tông Phái. Đến khi truyền sang Trung Quốc mới kiến lập thành Tông do Ngài Huệ Viễn Đại Sư đời Đông Tấn sáng lập. Từ ấy Tổ Tổ tương truyền, đến Ngài Ấn Quang Đại Sư là Tổ thứ 13 của Tịnh Độ Tông ở Trung Hoa. Trong 13 vị Tổ Sư này, có Ngài Vĩnh Minh Đại Sư là hóa thân của Đức Phật A Di Đà, Ngài thị hiện vào ngày 17 tháng 11/ ÂL. Từ ấy về sau, môn đồ tứ chúng Tịnh Độ Tông đều lấy ngày này làm lễ vía Đức Phật A Di Đà vị Giáo chủ cõi Tây Phương Tịnh Độ.

Tịnh Xá Ngọc Duyên Tăng tín đồ tu tập theo đường lối của Tổ Sư Minh Đăng Quang lấy Giới Định Tuệ làm pháp môn tu tập mục đích là đoạn diệt phiền não để chứng nhập Phật tánh bản lai. Nhưng chúng tôi tự biết rằng: “Tự thân tuy có tu tập nhưng phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn. Vì vậy ngay trong đời này khó được liễu thoát sanh tử. Với thiện căn hạ liệt như thế, nên chúng tôi quyết định kiêm tu Tịnh độ một đời cầu nguyện vãng sanh để được thuận duyên hoàn mãn tâm nguyện Bồ Đề”.

Vì thế, mỗi năm đến ngày lễ vía Phật A Di Đà, Tịnh xá ngọc Duyên long trọng tổ chức, vừa nhớ ơn hai đấng từ phụ, vừa quảng bá pháp môn tu tập bất khả tư nghì trong thời mạc pháp này.

VIII. CÁC ĐẠO TRÀNG TU TẬP

1. ĐẠO TRÀNG VÔ LƯỢNG THỌ

Vô Lượng Thọ là bộ kinh trong “Tịnh Độ Tam Kinh”. Nội dung Đức Phật Thích Ca dạy về nhân địa tu hành của Đức Phật A Di Đà và quả đức viên mãn tức Y báo Chánh báo của cõi Tây Phương Cực Lạc

Trì tụng Kinh Vô Lượng Thọ, về mặt sự trì: Tăng trưởng Tín Nguyện Hạnh vãng sanh, một khi được vãng sanh rồi, chấm dứt chuỗi dài sanh tử lên ngôi Bất thoái chuyển. Về mặt Lý trì:  Là triển khai Phật tánh thường tịch(Vô Lượng Thọ) thể nhập vô thượng Niết Bàn.

Tịnh Xá Ngọc Duyên hằng năm thường mở đạo tràng Vô Lượng Thọ để cho Tăng tín đồ hành trì, để hổ trợ Tăng thượng duyên cho hạnh nguyện một đời vãng sanh liễu thoát sanh tử của hành giả tu tịnh nghiệp.

 

2. ĐẠO TRÀNG NGŨ BÁCH DANH

Đức Quán Thế Âm Bồ tát vì hạnh nguyện đại bi nên hiện đủ các loại ứng thân để hóa độ muôn loài. Vì vậy, Ngài có 5 trăm danh hiệu biểu thị cho những hóa thân của Bồ Tát Đại Sĩ.

Tịnh Xá Ngọc Duyên hằng năm vào những ngày lễ vía, tổ chức lễ lạy Ngũ Bách Danh, danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Để nương vào hồng danh muôn đức của Ngài mà sám trừ tội nghiệp, tu tập theo hạnh lắng nghe và Từ Bi Hỷ Xả của Đức mẹ hiền, ngõ hầu hoàn mãn tâm nguyên Bồ Đề.

3. ĐẠO TRÀNG LƯƠNG HOÀNG SÁM

Trong giáo pháp của Đức Phật thì sám hối là một phương pháp tu tập rất là quan trọng. Bởi lẽ nó mang tính chất chuyển hóa phiền não thành Bồ Đề, chuyển hóa sanh tử thành Niết Bàn. Do vậy, hành giả tu học ở trình độ nào đều phải sám hối. Sám hối có rất nhiều phương pháp như: Tác pháp sám hối, Thủ tướng sám hối, Hồng danh và Vô sanh sám hối. Sám hối có sự có lý, có tướng có tánh, có cạn có sâu…

Lương Hoàng Sám là bộ sách dạy sám hối, do Ngài Chí Công Hòa Thượng lập ra vào thời Vua Lương Vũ Đế. Ông là một vị Vua có nhân duyên lớn với sám hối này. Nên lấy tên bộ sách sám hối này là Lương Hoàng Sám.

Sám hối theo pháp này, hành giả sẽ thành tựu đủ các pháp sám hối, dễ dàng tiêu trừ các nghiệp chướng quá khứ, cũng như hiện tại, hầu sớm viên mãn tâm nguyện Bồ Đề.

Với đặc điểm ấy, nên đạo tràng Tịnh Xá Ngọc Duyên mở đạo tràng Lương Hoàng Sám, để cho phật tử xa gần tu tập, hỗ trợ cho đạo nghiệp vãng sanh, hầu sớm viên mãn hạnh nguyện liễu thoát sanh tử.

4. ĐẠO TRÀNG BÁT QUAN TRAI

Bát quan trai là tám giới mà Đức Phật chế ra cho người tại gia tu tập trong 24 tiếng đồng hồ ở tại Tịnh Xá(chùa), cũng goi là xuất gia(kết duyên) một ngày một đêm, gieo nhân giải thoát cho người phật tử tại gia. Trong một ngày một đêm này, ngoài nghiêm túc giữ đúng 8 giới, người tu tập Bát quan trai còn phải buôn bỏ các duyên bên ngoài, phòng hộ các căn bên trong, bằng các phương pháp tu tập như: Thiền hành, thiền tọa, niệm phật, bái sám.v.v.. trong mỗi mỗi oai nghi đều giống như người xuất gia trong thiền thất vậy.

Tịnh Xá Ngọc Duyên sau ngày giải phóng đã mở đạo tràng Bát quan trai cho phật tử tu tập, mỗi tháng từ 1 ngày(23) cho đến 2 ngày(8), không riêng phật tử tại bổn tịnh mà chư phật tử các tự viện xa gần ở trong Thị Xã cũng như ở ngoài Thị Xã đều về đây tu tập. Đặc biệt là gần 10 năm trở lại đây, đạo tràng Bát quan trai kết hợp với đạo tràng Niệm Phật(Thiền định song tu) nên được chư phật tử gần xa nhiệt liệt hưởng ứng. Do vậy, đạo tràng Bát quan trai, mỗi ngày mỗi thêm khởi sắc.

IX. BAN HỘ NIỆM

Bậc cổ đức có dạy: “đến đời mạc pháp ức ức người tu hành khó có người đắc đạo, chỉ còn nương vào pháp môn này(Môn tịnh độ) mà được độ thoát”.

Trong pháp môn Tịnh độ, tín nguyện hạnh là điều kiện để được vãng sanh. Bỏ 3 yếu tố này thì dù tu tập ở trình độ nào cũng khó được dự vào hàng cửu phẩm.

Phương pháp tuy rất đơn giản, dễ thành tựu, nhưng phần nhiều chúng ta ở thời kỳ mạc pháp này phước mỏng nghiệp dày, chướng sâu huệ cạn. Vì vậy, khi lâm chung vẫn có nhiều người không giữ được tín nguyện hạnh để liễu thoát sanh tử. Do vậy, chư tổ Liên Tông mới dạy thêm phương pháp niệm phật, trợ giúp cho người đồng tu được giữ vững tôn chỉ vãng sanh lúc sanh tiền, cũng như khi lâm chung để được đắc sanh vĩ độ. Phương pháp Niệm Phật trợ giúp này gọi là Hộ niệm.

Tịnh Xá Ngọc Duyên vào năm 2010, do duyên lành hội đủ, người người đều tín tâm vào pháp môn Tịnh độ, nên thành lập Ban hộ niệm. Từ ấy, Ban hộ niệm Tịnh Xá Ngọc Duyên y theo quy tắc của Tịnh Độ Tông, dưới sự lãnh đạo của Chư Tăng chỉ thuần túy Niệm Phật hộ niệm, không nhận lễ tạ, không cầu an, cầu siêu, luôn luôn tôn trọng ý kiến của Chư Tôn Đức Tăng Ni, một lòng vì người, vì mình, tự lợi lợi tha để đồng được vãng sanh liễu thoát sanh tử luân hồi.

X. TỪ THIỆN XÃ HỘI

“Lợi sanh vi sự nghiệp”

Đây là Phật ngôn mà tất cả người con Phật đều phải thông suốt. Với lý tưởng cao đẹp ấy, nên Tịnh Xá Ngọc Duyên ngoài việc mở những đạo tràng tu tập truyền bá chánh pháp, hằng năm còn hành trì pháp Bố Thí đến với mọi người như: Xây nhà tình thương,  cứu trợ bão lụt, chẩn bần trong các ngày lễ Phật Đản, Lễ Vu lan và ủng hộ cho hội người mù, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, gạo đỏ lửu cho những người nghèo vào dịp tết cổ truyền. Đặc biệt vào tháng 5/2012, Tịnh Xá Ngọc Duyên đã mở được Bếp cơm tình thương cho bà con xa gần có nhu cầu đến Tịnh Xá ăn cơm chay mỗi tháng 4 ngày(2 - 10 – 18 – 25 - ÂL). Đây là việc làm lợi hành, tuy chẳng thấm vào đâu nếu đem so với các bậc cổ đức hay các đại thí chủ, các mạnh thường quân hiện đời. Nhưng cũng biểu thị được một phần nào chữ Từ Bi trong Đạo Phật.

XI. KHÓA TU NIỆM PHẬT 7 NGÀY (PhậtThất)

            Đức Thế Tôn suốt một lộ trình 49 năm vân du hoá độ, Ngài đã tuỳ thuận theo căn cơ chúng sanh mà nói ra muôn ngàn pháp môn. Nhưng đối với bản thân “Đệ tử” nói riêng và tất cả người con Phật nói chung thì pháp môn Niệm Phật là pháp môn thù thắng nhất, phổ cập nhất trong các pháp môn, được áp dụng vào thời bấy giờ (mạc pháp). Tuy pháp môn này khó tin, bởi lẽ nó quá ư thù thắng nhưng lại dễ tu, dễ chứng, dễ thực hành lại đạt kết quả cao. Đây là con đường tắt trong các con đường tắt đi đến cõi Phật thoát ly sanh tử luân hồi. Các pháp môn khác như con mọt đục ống tre từng mắt mà lên, còn pháp môn Niệm Phật như con mọt đục ngay ống tre mà ra. Cả hai phương pháp này đều đưa con mọt ra khỏi ống tre, nhưng phương pháp sau có kết quả mau chóng hơn phương pháp trước.

Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài đã vì lòng từ bi thương xót chúng sanh nhất là trong thời mạc pháp, phần đông căn cơ thấp kém, căn tánh lận độn, mê muội, ái tình đắm nhiễm, ý chí hạ liệt, gặp nhiều trở ngại liền thối lui, chính vì thế mà tự lực tu hành khó bề giải thoát. Cho nên, Ngài đã vì lòng đại bi mà nói ra pháp môn này và khuyên dạy chúng đệ tử nên hướng về pháp môn này tu hành sẽ được vãng sanh, giải thoát chứng quả vô thượng đạo.

Chính vì ý nghĩa này, cho nên Đạo tràng Tịnh Xá Ngọc Duyên hằng năm mở ra 4 khóa tu  (Phật thất) cho quý nam nữ phật tử gần xa trở về tu Niệm Phật, ngõ hầu nương vào công đức lành này khi thân hoại mạng chung được vãng sanh về tây Phương Tịnh Độ .

Tác giả bài viết: HT. Giác Tần

Video nổi bật
Thời tiết hiện tại
Thống kê truy cập
Quảng cáo
quảng cáo phải 1
trai1
Ảnh Sư Phụ
^ Về đầu trang